HV: Hạnh Vân chuẩn bị về quê ăn Tết nên treo cái truyện này ở đây cho nhà đỡ lạnh. Mến chúc tất cả mọi người có một cái Tết an lành, ấm áp và thiệt nhiều niềm vui ạ!
Nhớ quê thương phố
Anh tính chạy nhanh về đón thằng Hoài như mọi hôm nhưng lại giảm ga, cho xe chạy chầm chậm phía sau Nga. Chỉ hôm nay nữa thôi, anh sẽ không còn nhìn thấy mái tóc loăn xoăn buộc túm lại bằng sợi dây thun trẻ con nhiều màu sắc, đuôi tóc thả xuống lưng áo thẫm lại bởi mồ hôi. Bờ vai nhỏ nhắn và cái lưng hơi khom của Nga ngày nào anh cũng gặp đôi ba lần - gặp lúc ăn trưa ở công ty, gặp khi cùng đường về và gặp cả khi anh lê lết trên sân chơi đá dế với thằng Hoài - nhưng chỉ hôm nay anh mới cảm thấy chùng chình, nửa muốn vượt lên trước để kịp ghé trường đón thằng Hoài, nửa muốn chạy thật chậm phía sau… Cuối cùng, anh tăng ga chạy vọt qua, chiếc xe cũ kỹ thả lại phía sau một cụm khói đen ngòm còn anh thả lại phía Nga câu nói cụt ngủn: “Tui đi công chuyện đó nghen!”. Câu này còn có nghĩa là “hôm nay tui không có đón thằng Hoài đâu, liệu mà tính”.
Lời nói quăng ra rồi anh lại thấy bồn chồn áy náy muốn lượm lại. Anh dìm cái cảm giác phức tạp khó chịu ấy bằng cách tấp vào quán nhậu ven đường, gọi điện thoại kêu thằng Dũng cùng phòng tới lai rai. Ừ, chuyện của mẹ con họ mắc mớ gì tới mình mà phải áy náy…
- Ông bày đặt rượu chè giờ này chắc trời mưa to quá! Ủa mà bữa nay nhậu dụ gì vậy?
Thằng Dũng vừa cười nhăn nhở vừa kéo ghế ngồi đối diện với anh, rồi bất chợt nó vỗ tay cái đét:
- À, uống mừng con Mơ xù thằng Air Blade hả?
- Nói bậy, nó quen ai xù ai thì kệ nó chứ. Uống đi, mai tao về quê ăn tết rồi ở luôn dưới đó, mày không còn dịp lai rai với anh mày nữa đâu…
Anh nói bằng cái giọng lơ đãng, nhưng ánh mắt thì bồn chồn nhìn ra con đường tấp nập xe cộ. Ngoài ấy, nắng bắt đầu héo dần, những đám mây xám hợp lại và sà xuống thấp. Cái miệng bép xép của thằng nhóc vậy mà linh, trời đổ mưa to thiệt… Mưa trái mùa kiểu này ai mà chuẩn bị áo mưa, chắc Nga ướt hết… Thằng Hoài không biết có chịu chạy vào hiên trú hay lại đứng dầm mưa luôn ngoài cổng trường chờ đợi…
- Xì, hồi trước ông cũng nói về quê luôn, nhưng giờ còn ngồi chình ình một đống ở đây đó thôi.
Thằng Dũng trề cái môi dài ra, nhưng anh không chấp. Thằng nhóc nói đúng, hồi đó khi thấy nhỏ Mơ ôm eo sát rạt thằng cha Air Blade (sau khi xù anh chàng Nouvo), anh đã đập vỡ chai bia và nói chắc như đinh đóng cột: “Gái quê lên thành phố là hỏng hết, hết tháng này tao về!”. Vậy nhưng hết tháng này lại sang tháng khác, anh vẫn còn lừng khừng ở phố…
Có lẽ là tại thằng Hoài. Không biết kiếp trước anh có nợ nần gì nó không mà giờ lại cứ vướng vào nó. Có hôm hết tháng, anh tính thôi việc rồi lại nghĩ tới thằng Hoài còn chưa được biết thả diều là gì. Thế là hai chú cháu loay hoay cắt cắt dán dán, đỏ mắt tìm bãi đất trống để thả diều. Rồi thì cánh diều cũng bay vút lên cao, thằng Hoài nhảy cẫng lên khoái chí, anh cũng vui nhưng lại chặc lưỡi, “giá phải cánh đồng ở quê thì diều bay đẹp biết mấy…”. Hết mùa thả diều, anh thấy còn cần phải dạy cho thằng nhỏ biết bơi, con trai mà không biết bơi thì tệ quá… Hai chú cháu chiều chiều lại chở nhau ra hồ bơi, cháu tay ôm phao chân đập loạn xạ, chú mắc cười nhưng làm mặt nhăn nhó, “trẻ con thành phố dở ẹc, dưới quê con nít chỉ được ôm bẹ dừa hay khúc cây chuối mà tập bơi ngon lành…”. Cứ thế, khi thì đá banh, khi thì chơi bi, khi thì đá dế… có bao nhiêu trò chơi thuở nhỏ anh đã được chơi cùng cha thì anh đem ra bày cho thằng Hoài chơi bằng hết. Nhìn thằng nhỏ mồ hôi bê bết, đất cát đầy người, miệng ngoác ra cười khoe răng sún mà anh thấy nhói lòng, thằng nhỏ có cha cũng như không, nó còn bất hạnh hơn anh, bởi ít ra cha anh cũng đã đi cùng anh gần hết quãng đời thơ ấu trước khi ông về với đất…
Lúc chơi cùng thằng Hoài thì anh nghĩ vậy nhưng những lúc về phòng nằm một mình, nghe tiếng nồi cơm sôi, tiếng cười hay tiếng càu nhàu ở phòng bên, anh lại thấy thằng Hoài hạnh phúc hơn mình nhiều lắm, vì nó có mẹ còn anh thì không. Nghe người ta kể lại, lúc mẹ anh xách túi quần áo vội vã ra khỏi nhà, anh hớt hãi níu chân mẹ khóc ngằn ngặt, vậy mà bây giờ anh không thể nhớ nổi gương mặt của mẹ…
Nên anh thích nhìn Nga. Những khi Nga nghiêng đầu ngắm nghía chiếc áo cô mới may cho thằng Hoài hay lúc cằn nhằn người ngợm áo quần thằng bé dơ bần, gương mặt và ánh mắt của cô đều rất dịu dàng. Không biết ngày xưa mẹ anh có từng dành cho anh những ánh nhìn tràn ngập yêu thương như thế?
Có bữa thằng Dũng bổng dưng hỏi cắc cớ, “mắc mớ gì ông hay sang phòng bển vậy, nhỏ Mơ đi chơi rùi mà?”, anh không trả lời, chui vào phòng tắm rồi còn nghe tiếng thằng nhóc la lớn: “Đừng nói ông thích mẹ thằng Hoài nhen, bộ tính làm phi công trẻ lái máy bay bà già hả?”. Anh xối nước ào ào lên người, những ca nước làm buốt lạnh cả từng suy nghĩ. Nếu anh thích Nga thì sao? Nga cũng có nhiều điểm để thích, cô đảm đang giản dị như một cô gái quê thuần khiết dù đã sống ở thành phố từ rất lâu. Đợt bị cảm ho gần đây, khi thằng Hoài đem sang chén tắc hấp đường phèn và Mơ bưng qua cho anh tô cháo hành ấm nóng mà anh biết chắc chắn đều do Nga chế biến, anh đã cảm động đến ứa nước mắt... Nhưng ở Nga cũng có những điểm anh không thích, ánh mắt Nga dịu dàng nhưng buồn và hay né tránh cái nhìn người khác, dường như cô luôn muốn thu mình… Nhiều lúc anh cũng có ý muốn gần Nga thêm một chút, để hiểu hơn về những cảm xúc phức tạp bên trong vẻ ngoài tưởng chừng giản dị của cô, nhưng cô luôn đẩy anh ra bằng cái kiểu nói chuyện khách sáo và cách xưng hô xa vời vợi, kiểu như “Chị cám ơn nha, không có chú chắc thằng Hoài chờ mỏi chân quá!”, hay “Chú ngồi đợi chút, cái Mơ sắp về rồi đó, nó đi sinh nhật bạn”… Cách nói chuyện như vậy thường làm anh khó chịu, nên hôm qua khi nghe Nga nói “Cái Mơ chia tay với bạn trai rồi, hình như nó cũng đang quan tâm tới chú đó”, anh đã gắt lên, “Tui không chờ Mơ, tui qua để nói với Nga ngày mốt này tui về quê luôn đó!”. Rồi anh bước nhanh trở ra, vẫn kịp nhìn thấy ánh mắt ngỡ ngàng, loáng ướt…
Ban đầu anh quyết định bỏ việc về quê đơn giản chỉ vì thấy cuộc sống của mình nơi đây đơn điệu và tẻ nhạt quá. Ngày này chỉ khác với ngày kia ở chỗ hàng về nhiều hay về ít, tăng ca hay không tăng ca còn công việc thì vẫn vậy. Chẳng bù với trước kia, anh luôn phải tính toán xem mùa này nên trồng giống lúa nào, nên chọn xịt thuốc nào, nên bón phân gì, nên cấy hay nên xạ… Chính thằng Hoài đã làm cho việc thực hiện quyết định về quê của anh chậm lại, anh không muốn thằng bé bị cuốn vào những tiệm game nhan nhản quanh đây và học những tiếng chửi thề cộc lốc từ vô số đứa con nít hỉ mủi chưa sạch ở trong đó. Nhưng rồi anh lại nghi ngờ rằng dù mình có cố gắng mấy cũng khó mà giữ được thằng bé đó trong veo mãi, cũng như anh đã ra sức níu chân mà vẫn không giữ được mẹ, đã đi theo bảo vệ mà vẫn không giữ được Mơ. Anh đã chứng kiến những người thân yêu của mình như những con thiêu thân lao vào ánh sáng rực rỡ chói lòa của thành phố rồi biến mất… Chỉ có Nga là còn tồn tại, nhưng cô cũng đâu hạnh phúc…
***
Anh không nhớ mình với thằng Dũng đã uống bao nhiêu và về phòng trọ bằng cách nào nhưng khi tỉnh dậy thì ánh nắng chói gắt đã rọi thẳng vào mặt. Anh nheo mắt, có người đang loay hoay bên bếp. Anh ngồi bật dậy, dụi mắt. Không phải Nga mà là Mơ. Cô cất tiếng chào buổi sáng bằng cái giọng cao, hơi chói: “Tỉnh rồi đó hả? Gớm, nhậu gì mà khiếp, quên cả đóng cửa phòng, may mà chưa mất xe đó!”. Đầu nặng như chì, tay chân rời rã, anh ngồi tựa lưng vào tường và cố gắng nhướng đôi mắt chỉ chực chờ díp lại. Nhìn dáng Mơ vào bếp không hợp, có lẽ một phần cũng tại cái áo thun đỏ và cái quần sooc ngắn ngủn cô đang mặc trên người…
Ngày trước Mơ không ăn mặc như thế, ở quê ra đồng thì chỉ có quần đen dài chấm gót, áo khoác cũng dài tay, mặt thì luôn che kín mít bằng một cái khăn rộng và cái nón lá đội lúp xúp trên đầu. Có bữa Phong đang xịt thuốc ruộng bên này thì nghe tiếng hét thất thanh của Mơ ở ruộng bên kia, anh quăng bình xịt đạp lúa băng qua, thì ra là một con đĩa nằm vắt ngang bắp chân của Mơ. Anh bắt con đĩa mà tay tự nhiên run rẩy, không phải vì sợ mà vì lần đầu tiên anh được nhìn thật gần và được chạm tay vào cái bắp chân con gái trắng nõn nà bên trong ống quần đen rộng… Vì cái lần bị đĩa đeo chân ấy mà Mơ bỏ quê lên phố, cũng vì ám ảnh cái bắp chân trắng non của Mơ mà anh đóng cửa nhà lên theo. Anh không muốn mất Mơ như đã từng mất mẹ... Vậy nhưng mặc cho anh cố gắng, cô bé Mơ trong trẻo giản dị ngày nào cũng dần biến mất, thay vào đó là một cô Mơ khác lanh lợi hơn, sành điệu hơn và cũng thực dụng hơn... Mà hình như ngay cả anh cũng đang đổi khác, như lúc này đây, anh không còn chút cảm giác xao động nào khi nhìn vào đôi chân dài trắng muốt của Mơ đang chuyển động trước mặt mình…
- Anh ăn chút cháo xem em nấu có được không, em chỉ sợ thằng Hoài chê em nấu không giống mẹ nó…
- Thằng Hoài đâu rồi?
Anh vừa hỏi vừa hướng cái nhìn ra bờ rào, nơi mỗi sớm Nga thường đứng phơi quần áo còn thằng Hoài thì lăng xăng bên cạnh ríu ran đủ chuyện. Những lúc ấy anh cũng hay xách nước ra tưới cho đám mồng tơi lưa thưa bên rào, thấy lòng ấm áp như mình đang có cả một gia đình hạnh phúc chứ không phải lủi thủi đơn độc một mình... Nhưng hôm nay cả khoảng sân vắng tanh vắng ngắt, người ta về quê ăn tết gần hết rồi còn gì…
- Thằng Hoài đang trong bệnh viện Nhi đó! Cũng tiện đường nên chút anh mang cháo vô cho nó rồi hẵng về quê…
- Sao? Thằng Hoài làm sao? - Anh hỏi giật giọng, cơn buồn ngủ rủ nhau biến đi đâu hết nên mắt anh mở to, ráo hoảnh.
- Gớm, xỉn gì mà không biết gì hết. Hôm qua thằng Hoài dầm mưa lội bộ từ trường về nhà nên nhiễm lạnh, tối nó sốt cao. Mẹ nó tính nhờ anh hoặc anh Dũng chở giúp hai mẹ con đi viện mà gọi không ông nào chịu dậy…
- Thằng Hoài sao rồi? - Anh cắt ngang lời Mơ.
- Thì vào viện nằm chứ còn trăng sao gì nữa... Con nít bệnh chút mà bà Nga cuống quýt cả lên, may mà có em ở chung phòng đó!
- Em chở thằng Hoài đi viện hả? - Anh vừa hỏi vừa đứng bật dậy, tỉnh táo.
- Hổng dám đâu, xe đâu mà chở. Mấy phòng có xe máy cũng khóa cửa về quê gần hết rồi, còn được hai anh thì lại xỉn quắc cần câu. May mà em nhớ ra ông chồng cũ của bà Nga nên em lấy máy bả gọi cho ổng, dù sao ổng cũng là cha thằng Hoài mà, phải có trách nhiệm chớ…
Anh chợt thấy đầu gối mỏi nhừ, muốn ngồi xẹp xuống nền nhưng vẫn gắng gượng đứng thẳng. “Đưa cháo đây anh đi luôn, thằng nhỏ nằm phòng mấy?”
***
Anh nhảy hai bậc cầu thang một để nhanh lên tới tầng ba. Thằng Hoài đang thiu thiu ngủ, thoáng nghe tiếng anh nó ngồi bật dậy. Anh gắt:
- Nằm xuống đi ông tướng, yếu mà còn bày đặt ra gió…
Thằng Hoài nhe răng sún ra cười nhăn nhở, nó kéo anh sát lại thì thào:
- Con giả đò bệnh đó, ai biểu chú hổng thèm đón con, hổng thèm chơi với con nữa làm chi.
Anh né tránh lời trách móc của thằng nhỏ bằng cái nhìn lơ đãng và những câu hỏi vu vơ. Anh hỏi “mẹ nhóc đâu rồi?”, thằng bé nói “mẹ đi làm hồ sơ gì đó”. Anh hỏi “hồi khuya ba chở con vô đây hả?”, thằng bé gãi đầu “hình như vậy, con buồn ngủ quá nên hông nhớ”. Anh cắn môi, hỏi tiếp một câu cũng có vẻ vu vơ nữa, “con có thích về ở với ba không?”. Lần này thì thằng nhỏ nói chắc nịch, “không, con ở với mẹ như vầy vui hơn?”.
Anh nhìn lên trần nhà, còn đang nghĩ xem có nên hỏi thằng bé nữa hay không thì nó đã quay sang anh, giọng khản đặc, “hồi trước ba hay túm tóc đánh mẹ, con sợ quá tè dầm ra quần, ba còn đánh cả con luôn”. Rồi nó hắng giọng như ông cụ non, giọng hơi trong trở lại, “nhưng mà thỉnh thoảng cũng có lúc vui, ba chở con đi công viên chơi”. Anh cốc đầu nó, “công viên là nơi dành cho mấy người yêu nhau với lại mấy người… móc túi, nhóc vào đó chi vậy?”. Thằng Hoài cười ha ha, nói “chú quê quá à, công viên là của trẻ con mà. Ở đó có xe ô tô con nít, chạy đụng nhau cũng không sao, ở đó còn có con gà to đùng lắc lư lắc lư ngồi lên thiệt đã, ở đó cũng có cả một nhà toàn banh là banh tha hồ mà ném nhau…”
Mỗi lần thêm một cái điệp khúc “ở đó có…”, mắt thằng Hoài lại sáng lên, hệt như những lần nó chơi thả diều đá bóng với anh vậy. Bỗng dưng anh thấy bồn chồn sốt ruột, không biết Nga làm hồ sơ gì mà lâu quá, anh muốn gặp Nga ngay lúc này, để nói với Nga rằng anh về quê lo hương khói cho cha mấy ngày tết rồi sẽ lại lên ngay, rằng anh đã bày cho thằng Hoài chơi gần hết những trò chơi quê mùa dân dã nên hai mẹ con cũng phải giúp anh xóa mù thông tin về cái công viên trẻ con nào đó… Và rằng không có mẹ con Nga thì cuộc sống của anh dù ở quê hay ở phố cũng sẽ đơn điệu tẻ nhạt biết bao - Điều này thì chắc là anh không nói ra thành lời được, nhưng không sao, đâu nhất thiết tất cả mọi ngôn ngữ của tâm hồn đều phải chuyển hóa thành lời…
Hạnh Vân
“…Ngược dòng Đồng Nai, chàng trai miệt hạ đã lạc vào lãnh thổ của người sơn cước thượng nguồn sông. Chàng trai bị bắt nhưng nhờ dũng cảm và tài năng của mình đã được dân làng cho sinh sống, trú ngụ. Tại đây, tình cảm của chàng trai và con gái của vị già làng nẩy nở. Thế nhưng, sống trong cảnh sơn cước, được tôn trọng và có người con gái tù trưởng thương yêu, lòng chàng trai vẫn ngóng về miền quê phía miệt hạ dòng sông. Nhưng, khổ nỗi, quy định của vùng người sơn cước không ai đã đến sinh sống lại được đi ra khỏi. Nhớ quê da diết, chàng tìm cách đi về khi băng qua cây cầu độc đạo và đã phải ngã xuống bởi những loạt cung tên định mệnh của xứ sở người yêu. Trước tình cảnh đó, cô gái của dân làng sơn cước đã trầm mình dưới dòng nước dữ, hoá thân thành tượng đá ngày đêm khóc cho tình yêu mãnh liệt…”
Chuyện tích xa xưa về thác Trị An đã khiến cho bao người nhói lòng, xót xa cho một mối tình không trọn vẹn...
Thác nhớ
Anh như chàng dũng sĩ can trường băng rừng vượt sông tìm miền đất lạ
Em như sơn nữ bao năm quẩn quanh một góc núi rừng
Chuyện tích xa xưa xới tung khoảng lặng trong em như thác nước Trị An ào ạt đổ vào vùng bình nguyên miệt hạ
Em sợ mình hóa đá...
Em sợ mình hóa đá
Khi đất lạ thành quen cây rừng vướng víu bước chân ánh mắt anh lạc phương trời khác
Em không muốn thấy anh trốn chạy khỏi miền sơn cước và gục xuống bởi những mũi tên oan nghiệt
Nên em không níu giữ người đàn ông lỡ lạc chân vào lãnh thổ riêng mình
Anh không là tù binh
Anh không thành tình lang
Anh không thuộc về em từ khi cánh rừng đại ngàn bị đánh thức bởi ầm ào thác đổ
Bùa yêu không trói nổi lòng người
Và anh ngóng mãi phía cuối trời
Nơi không em
Em sẽ không hóa thân thành tượng đá trong đợi chờ vô vọng đâu anh
Dẫu cho nỗi nhớ từ miền em cứ ào ạt tuôn tràn như thác lũ
Sông Đồng Nai quặn lòng đổi thay dòng chảy
Như cơn rùng mình cuối cùng của anh
khi rũ bỏ hương rừng
Dòng nhớ xuôi về phía anh lắng dịu nhẹ nhàng
Như thể sóng lòng em cũng không muốn làm anh bị ướt
Đã bao giờ anh ngắm dòng sông lững lờ trôi mà chạnh thương vùng thượng nguồn thác đổ?
Đã bao giờ anh lặng yên nơi góc phố mà thắt lòng nhớ một miền xanh?
Em không muốn mình hóa đá khóc than một mối tình vô vọng đâu anh!
Hạnh Vân

Đa dạng, xanh tươi và hấp dẫn
hướng tới giá trị chân-thiện-mỹ
(Nhìn về nửa chặng đầu cuộc thi
truyện ngắn 2011-2012 của báo Văn Nghệ)
SƯƠNG NGUYỆT MINH
NVTPHCM- Cuộc thi truyện ngắn đã đi được nửa chặng đường, chỉ một năm báo Văn Nghệ và Văn Nghệ Trẻ đã in tới 152 truyện ngắn dự thi trong số hơn 1200 tác phẩm gửi đến tòa soạn…
Truyện ngắn với đặc trưng thể loại văn xuôi tự sự luôn đòi hỏi cô đọng, hàm xúc có sức mời gọi, quyến rũ người viết vô cùng. Chính tính chất ngắn gọn và gợi cảm là lợi thế tiếp nhận, cảm thụ, chinh phục bạn đọc. Dù chuyên sáng tác tiểu thuyết, hoặc chuyên viết ký thì ít nhất trong đời mỗi nhà văn cũng đôi ba lần thử sức viết truyện ngắn, khám phá, chinh phục truyện ngắn. Có những tác giả suốt đời viết truyện ngắn không biết chán; bạn đọc chẳng bao giờ bỏ truyện ngắn ngay cả thời phương tiện nghe - nhìn đang phát triển như vũ bão. Bằng chứng là hàng loạt các cuộc thi truyện ngắn vẫn nối tiếp tổ chức, và các tập truyện ngắn vẫn được in rồi bày bán với số lượng không nhỏ. Chưa bao giờ truyện ngắn chết. Thời truyền thông hiện đại, truyện ngắn lại càng có đất sống và phát triển. Nói không hề quá: Truyện ngắn đương đại vẫn đa dạng, phong phú, xanh tươi và hấp dẫn người đọc; có thể tìm thấy điều này trong Nửa chặng đầu cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ (năm 2011 - 2012).
Tính đa dạng, phong phú của một cuộc thi văn học thể hiện ở lực lượng sáng tác với nhiều giọng điệu khác nhau. Ví như cuộc “ra quân” của các nhà văn thành danh cũng không ngại ngùng dự thi; dự thi “cho vui”, dự thi với đồng nghiệp, dự thi với tác giả trẻ và dự thi với… chính mình. Dường như các tác giả lão luyện, dày dặn “trường văn trận bút” đã tự thăng hoa “hữu xạ tự nhiên hương”: Có thể nhận thấy một Văn Chinh đáo để, lọc lõi và triết luận. Vũ Xuân Tửu chân mộc, nhiệt thành. Thu Trân gai góc và dữ dội. Nguyễn Hiệp thủ thỉ tâm tình mà ẩn chứa sự bỏng cháy . Hà Phạm Phú trăn trở và thao thức đang tự làm mới mình. Lê Hoài Nam u hoài, xót xa. Nghiêm Huyền Vũ lành hiền, chân chất. Võ Thị Xuân Hà trầm buồn đôi khi rầu rĩ “Dưới nước”. Nguyễn Việt Chiến bảng lảng chất thơ và ngây ngất “Mùi hương Tiên” thanh khiết… vv…
“Trăm hoa đua sắc, trăm nhà đua giọng” náo nhiệt, sôi động hơn cả vẫn là các tác giả trẻ tuổi đời hoặc trẻ tuổi nghề: Phùng Hi giọng giả cổ nhưng vẫn giữ được cái khúc triết tươi mới của “Phương Nam” và bỡn cợt với “Gạch nối”. Mai Dương Dương da diết, thương cảm “Rau đắng”. Uông Triều dấu mình trong “quan tài” lạnh lùng “Trong đám tang của mình” nhìn đời và tưng tửng bóc mẽ mặt trái của đời. Hạnh Vân trĩu nặng và u uẩn với “Quán ven sông”. Phạm Thanh Thúy khách quan lạnh lẽo với “12 chiếc bánh Flan”. Phạm Phương dằn vặt trong “Đêm mặt trời”. Nguyễn Tiến Bình trầm buồn, thao thiết với “Đêm dài qua”. Lê Thanh Kỳ điềm tĩnh và tỉnh táo với người “Bạn khách”. Chu Thùy Anh hoang hoải trong hoài nghi và xót xa với “Hàng xóm”. Nguyễn Đức Lợi quyết liệt trong sự phẫn uất ở “Hồn rừng” và ma mị ở “Ma núi rắn”. Hoàng Hải Lâm tinh tế và quặn đau với “X. Quang cho một tâm hồn”. Phạm Xuân Hiếu chậm dãi, lọc lõi ngôn ngữ văn hóa đồ cổ, bỡn cợt cái giả lưu hành cùng kẻ dốt nát tham lam với “Đồng dollar cổ”…vv.
Tính hấp dẫn lôi cuốn của truyện ngắn dự thi không những thể hiện ở đối tượng sáng tác mà còn in dấu ấn vào lòng bạn đọc qua cách thức phản ánh hiện thực:
1. Kì ảo trong bến bờ hiện thực.
Truyện ngắn “Phương Nam” của Phùng Hi đậm đặc chất huyền ảo nhưng cũng ngổn ngang bề bộn hiện thực đời thường. Tác giả cắt nghĩa mối quan hệ giữa quyền lực - đạo - đời qua hình ảnh bộ ba Vua Hùng - Lão Tử - Nàng Hoa. Đời thường cả Đạo, Đời thường cả quyền lực chính là đề cao con người. Hình ảnh Lão Tử vô vi lấy vợ, đi cày và Vua Hùng cầm quyền nhẹ tênh như không cai trị như là biểu tượng dung dị chan hòa cuộc sống, qua những va đập văn hóa Đạo Nho, Đạo Lão, Đạo Việt để trở lại với Minh triết Việt. Sức hấp dẫn của “Phương Nam” ở “giấc mơ nghệ thuật” của người viết tưởng tượng để dựng một câu chuyện độc đáo là Lão Tử cưỡi Trâu xanh đi về phương Nam và lấy vợ, sống, làm quan ở Văn Lang, rồi dẫn dụ người đọc đi cùng hành trình tự khám phá với lối hành văn giả cổ khúc triết mà vẫn tươi xanh lấp lánh.
“Ghi chép của ngài Appin về con ngựa Hãn Huyết’ của Văn Chinh là một truyện ngắn kì ảo với không gian hiện thực mới và bỏ qua cách kể cũ mòn thường thấy để dẫn dụ người đọc theo dõi thân phận con ngựa đào ngũ đã được người hóa. Tác giả dựng chuyện con ngựa Hãn Huyết viện trợ chưa đến biên giới Việt - Trung đã đào ngũ và nương theo hành trình gian lao, đắng cay của nó để nói chuyện nhân tình thế thái, nói chuyện người láng giềng lớn.
“Dưới nước” của Võ Thị Xuân Hà mang đến cho người đọc thế giới nghệ thuật âm ty - địa ngục với những sông Đoạn Hà, Tiểu Ngục lạ lẫm để con người cô đơn thao thức vẫy vùng đi tìm người thân đã mất trong tuyệt vọng. Bến bờ hiện thực “Bạch hổ truyền kỳ” của Hoàng Tùng lại là không gian huyền hoặc, là mảnh đất hoang sơ liêu trai cho cái ác hoành hành, cái thiện tạm thời lui bước. Dù cuối cùng, cái ác cũng không còn đất sống và cái thiện được xây dựng, được hóa thân kì ảo như một biểu tượng thì vẫn để lại trong lòng bạn đọc một sự xót xa, chán nản bởi lòng tham con người.
Có thể nói tính hư thực của khu vực tác phẩm này đã mở rộng không gian nghệ thuật lạ mới, làm dầy thêm các loại hình nhân vật, góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú, sinh động của truyện ngắn dự thi.
2. Nương theo lịch sử - huyền sử tri âm.
Miêu tả, kể lại sự kiện, nhân vật lịch sử - huyền sử sẽ bằng thừa và vô nghĩa đối với nhà văn. Phẩm chất lớn nhất của nghệ sĩ là giàu sức tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật, với lòng tự trọng của người sáng tạo không bao giờ viết sử thay nhà sử học. Ở cuộc thi truyện ngắn này, các tác giả viết về các vấn đề lịch sử hoặc huyền sử đã vượt qua được tình trạng ấu trĩ nguyên sơ ấy và vươn đến sự cao cường, kỹ lưỡng ngay từ cách chọn đối tượng phản ánh đến thao tác nghệ thuật.
Nhà văn Lê Hoài Nam đắm đuối với đề tài lịch sử - huyền sử với bộ ba tác phẩm: “Những giọt lệ đỏ thắm”, “Vĩ nhân thời ốc đảo”, “Chuyện tình thời vong quốc” phóng khoáng, vạm vỡ, khá hấp dẫn. Thời gian và con người lịch sử chỉ là chất liệu, là cái cớ để ông sáng tạo ra một câu chuyện mới: Câu chuyện bi kịch của Nguyễn Trường Tộ tôi sáng không gặp vua hiền, trí thức “sinh bất phùng thời” bơ vơ cô độc giữa đám vua quan u tối “bế quan tỏa cảng”. Hoặc hình tượng Công Chúa Ngọc Bình với tâm trạng dằn vặt khi làm vợ kẻ thù của chồng mình, bà giày vò đau đớn trước hành động Nguyễn Ánh trả thù Nhà Tây Sơn một cách tàn bạo.
Võ Gia Trị lại dẫn dụ người đọc đi vào huyền sử “Chuyện người sinh ra vua”; vua là con sãi, nhưng vua cũng là “đứa con của lao động và minh triết Phật Giáo Việt Nam”. Ông gửi một thông điệp khác với sự thật thông thường, với lối tư duy cũ của thời đại cũ bằng một cái nhìn mới nhân văn: Con sãi ở chùa không quét lá đa mà lại lên làm vua. Tác phẩm đã thoát khỏi câu chuyện huyền sử quen thuộc, mà là một sáng tạo nghệ thuật độc lập.
“Những cánh chim lạc” của Hoàng Thái Sơn là một câu chuyện giản dị, nhưng mang tính triết luận thâm sâu: Hãy đừng nhìn sự vật hiện tượng buổi nguyên sơ của con người bằng tư duy khoa học hiện đại và cái nhìn phức tạp của thời nay. Tác giả giải mã văn hóa một cách khá thuyết phục cái lý của chim lạc bay ngược chiều kim đồng hồ trên mặt trống đồng, trái với lẽ thông thường bây giờ, bằng câu chuyện văn chương thay vì lối giải nghĩa giáo điều khô cứng, ít nhựa sống.
3. Chiến tranh đang là “mảnh đất bạc màu”?
Văn chương bạc màu áo lính?! Chiến tranh chỉ còn là mảnh đất bạc phếch trong văn chương đầu thế kỉ 21? Nếu chuyện đó là có thật thì cũng không có điều gì lạ, bởi cũng đã đến thời Văn học chiến tranh và Người lính không còn là mối quan tâm đặc biệt thổn thức của người viết và náo nức của người đọc. Hiện thực mới đang ngổn ngang, bề bộn, chồng chất bao nhiêu chuyện thật - giả, thiện - ác, ánh sáng - bóng tối…trong cuộc sống thời kinh tế thị trường phức tạp với những mối quan hệ nhằng nhịt đang dấu mặt hoặc lộ diện dưới những hình thức mới. Nhà văn đang quan tâm, đang bị cuốn đi và người đọc đang cần các tác phẩm nóng hổi về thời nay để nhận diện con người và cuộc sống này hơn là tìm về những gì xưa cũ. Dù vậy, Văn học Chiến tranh và Người lính vẫn không hề phai nhạt, vắng thiếu trong cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ.
Chiến tranh lúc gần lúc xa, lúc mơ hồ khi rõ rệt rất đậm đặc trong “Đêm dài qua” của Nguyễn Tiến Bình. Tác giả chỉ miêu tả vết thương thân xác và thương tật tâm hồn người lính mà vẫn ra chiến tranh. Truyện ngắn “Đêm dài qua” đã vượt qua các tác phẩm chiến tranh dặt lối kể mòn cũ chuyện chiến đấu, miêu thuật một trận đánh, một chiến dịch, bằng bút pháp lãng mạn trộn lẫn, đan xen hiện thực dữ dội trần trụi. Tác giả khắc họa nhân vật người lính nhẫn nại, hy sinh vì có những sự thật cần phải cất giấu, chứ không phải lừa dối, để không làm đau lòng người. Đó cũng là bài ca nhân văn về tình yêu và chiến tranh.
Yêu nhưng không ai có đủ tình thương và lòng can đảm chìa vai gánh gia đình của người đàn ông với đứa con dị tật do chất độc da cam; chỉ người đàn bà thứ bẩy cần và đủ tình làm được việc này thì lại bị chính người đàn ông khước từ bởi ông không muốn thêm một người đàn bà bất hạnh nữa. Cũng như không một chàng trai nào dám bước vào cuộc đời cô chủ “Quán ven sông” bởi cô cũng có một đứa con dị dạng đã hóa thân vào ảnh trên bàn thờ. Con người vu vơ níu giữ, thèm khát tình người, bị thừa ra, bị bỏ rơi, bơ vơ giữa đám đông lòng dạ lạnh lẽo. Văn Hạnh Vân vừa quặn thắt, u uẩn, lạnh giá khiến người đọc ám ảnh sợ hãi chiến tranh. Rất tiếc, bởi cái kết “bắn đạn thẳng” mà không “bắn cầu vồng”. Nếu như hầu hết toàn bộ “Quán ven sông” được đan cài chi tiết, hình ảnh, giấu nhẹm ý tưởng kín đáo tài tình, tinh tế bao nhiêu thì cuối truyện tác giả lại non tay vụng về bấy nhiêu, nói toẹt ra cái sự bất hạnh con người là do chất độc da cam làm cho truyện mất hẳn tính gợi cảm, y như cái áo lụa tơ tằm bị can thêm một mảnh vải thô làm gấu áo.
Phập phồng. Căng thẳng. Một giả định tình huống chiến tranh dữ dội ngoài biển đảo. Và “Phía sau người lính biển” là ký ức ngoại cùng người em gái sinh đôi bị giam hãm, bị lính Mỹ cưỡng hiếp trong hầm. Đứa con lai Mỹ đi sang sống trời Tây nhận một kẻ xa lạ làm bố. Đứa cháu ngoại chối từ người mẹ vong quốc làm người lính bảo vệ chủ quyền Trường Sa. Ai đáng giận? Ai đáng thương? Là câu hỏi không dễ trả lời của thời nay. Một cốt truyện lạ, một cái nhìn mở hướng ra nhiều chiều kích để người đọc ngẫm nghĩ về số phận người trôi dạt thời hậu chiến. (Phía sau người lính biển - Nhụy Nguyên)
Chiến tranh lùi xa, người chồng mải mê làm giầu và để người vợ lạnh lẽo, cô đơn trong tiện nghi hiện đại. Người vợ thèm khát mùi chồng - mùi đời trần ai chiến tranh. Người chồng dù cố cưỡng lại cám dỗ quay trở về thì người vợ cũng không nhận ra mùi của chồng mình nữa. Chiến tranh không chia lìa được lứa đôi, nhưng thời hiện đại lại ném họ ra khỏi thế giới nội tâm thầm kín của nhau dù sống chung một nhà. (Mùi chồng – Nguyễn Hiệp).
Tất cả đều có thể xảy ra trong chiến tranh. Đào tẩu khỏi trận chiến ác liệt, đào tẩu vì phản bội đồng đội vẫn sống trơ trơ không dằn vặt, hối lỗi; nhưng người phản bội tình yêu trong chiến tranh lại bị giày vò bởi thấy mình cũng đốn mạt hèn hạ như phản bội lý tưởng.(Những kẻ đào tẩu – Từ Nguyên Tĩnh). Kẻ phản bội đồng đội trở về làng sống dở người dở ngợm, lúc tỉnh lúc điên, muốn sám hối để sống thanh thản, nhưng con cháu không cho ông tự thú trong khi chúng đang sống yên lành, giàu có trong thăng tiến…, cũng là một bi kịch mới sau chiến tranh. (Kẻ phản bội - Mai Tiến Nghị). Vũ Thảo Ngọc cũng xót xa với “Đám mây màu xám tro”bởi nạn nhân chất độc da cam; và thương cảm đứa con rơi thời chiến luôn cháy bỏng ước muốn tìm cha trong khát vọng không thành.(Đêm nhớ). …vv.
4. Hiện thực mới ngổn ngang và những được - mất.
Quan sát hiện thực mới, chiêm nghiệm, kết tinh thành tác phẩm dường như lợi thế tinh nhanh nhạy lại thuộc về tác giả trẻ. Con mắt trong veo, tinh khôi và cảm xúc mới mẻ, run rẩy bao giờ cũng tiếp cận hiện thực mới nhanh hơn cái nhìn mòn nhẵn và cảm xúc chai lì.
Nhà văn trẻ Uông Triều thật tinh tường với tư duy “cái quan định luận”, quan sát đời nhố nhăng, xộc xệch từ điểm nhìn giả định linh hồn, tác giả lần lượt lật từng trang đời tối tăm, láu cá, ranh mãnh, bạc tình của các loại người ra ánh sáng như bóc từng lớp củ hành. (Trong đám tang của mình).
Ngòi bút nữ nhà văn Di Li lại khai phá ở một vùng đất mới “Nghĩa địa của người sống” bỏ không, chờ sẵn chẳng biết đến bao giờ mới có người chết. Đặt vào phép so sánh nghệ thuật: Một bên là vùng đất xây “thành phố” cho người sẽ chết phải có đẳng cấp đại gia, quan chức, nghệ sĩ lớn… cao sang phú quý mới được mộ phần rộng thênh thang. Một bên là người mẹ trẻ nghèo nhặt bóng, xách đồ, lau gậy phục vụ cho lớp người thượng lưu chơi gôn, và đứa con nhỏ bảy tuổi bất hạnh chết yểu chưa có mộ phần. Bằng giọng văn hiện đại, thông minh, khách quan lạnh lùng, tác giả gửi thông điệp: Cái chết xa xỉ cũng là sự bất nhân trên nỗi đau đồng loại.
Mai Dương Dương dân tộc Dao lại đắng xót thương cảm thân phận mong manh như cái lá, yếu đuối như ngon rau hoang của người miền núi không có khả năng tự bảo vệ. Cô gái câm quyết liệt bảo vệ con vừa là bản năng, vừa là hành động phản kháng như một sức sống mãnh liệt nơi hoang dại. (Rau đắng).
Bốn đôi dép người lớn, hai đôi dép trẻ con buộc nơ hồng luôn xáo trộn vị trí là một bí ẩn cuộc đời người “Hàng xóm” và cũng là nỗi thèm hơi ấm của đồng loại. Chu Thùy Anh dịu dàng nữ tính viết về nỗi cô đơn rợn ngợp của người già trong các căn hộ cao tầng bê tông cốt thép lạnh lùng, vô hồn thời văn minh công nghiệp. Bà già hàng xóm khóc lần duy nhất ấy là khi con chó già mười bốn tuổi chết, mà chưa bao giờ khóc ai thì nỗi cô đơn trơ trọi được đẩy đến tận cùng.
“12 chiếc bánh flan” là một câu chuyện lạ, một bà mẹ bí ẩn. Hợp đồng làm tròn chức phận“con” người “mẹ” điên thay cho đứa con thật đã chết… là một kết cấu hợp lý để nhân vật khám phá góc khuất một gia đình giàu có thác loạn. Phạm Thanh Thúy phơi bày bi kịch lớp người mới nổi do lừa lọc, chiếm đoạt căn nguyên từ triết lý: Cái gì có được dễ dàng thì cũng sẽ thành rẻ rúng vô nghĩa.
Bạn bè thật giả, vàng thau chỉ khi đặt trong hoàn cảnh thử thách chọn lựa lợi ích, được - mất mới hiện nguyên hình. Lê Thanh Kỳ luôn hoài nghi, tỉnh táo với ông “Bạn khách”. Không hề khiên cưỡng, “Bạn khách” là câu chuyện văn chương về tình bạn riêng tư có ký ức, có hiện tại cũng là bài học cảnh giác láng giềng quốc gia hữu sự.
Du An thấm đẫm cái nguyên sơ, tinh khôi không gian miền núi, nhưng lại thấy bề bộn một vùng cao lấm láp, đang nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp. Tác giả chia sẻ vất vả gian lao và quá trình hòa nhập không mấy dễ dàng của người dưới xuôi lên xây dựng vùng cao. Cái gì níu giữ họ lại nơi “rừng xanh núi đỏ”? Chính là tình người của “Cô Quỳnh”, và “Mùa nương”.
Dường như Năm Sọc là một sáng tạo nhân vật mới của Thu Trân trong “Gia phả mùi rơm rạ”. Điền chủ Năm Sọc vô sinh, nghiệt ngã không để của cải lọt vào tay kẻ khác, gian ác bằng mọi giá hợp pháp hóa đứa con của vợ chính vợ hờ thành đứa nối dõi của mình trong bí mật, kể cả việc giết người. Đứa con gái hờ bị chính y cưỡng hiếp đã chối bỏ gia đình, chạy trốn hiện tại bẽ bàng, mấy chục năm sau lại quay về mang ý nghĩa nhân bản và làm cho truyện bớt độ căng, dữ dội.
Nguyễn Việt Hòa cười cợt cái sự “tin bạn mất bò”, dở cười dở mếu hậu chuyện đem chồng làm “Phao cứu sinh” giúp bạn gái. Phan Đình Minh ngao ngán thở dài viết “Phần mềm” về sự gian dối trong khoa học công nghệ. Nguyễn Thái Sơn trần tình về niềm tin ngây thơ kỳ công xây dựng biểu tượng vẫn mù quáng trước sự mọt ruỗng khi “Bọ cánh cứng bay đi rồi”. Nguyễn Trúc Viên hoài vọng, tiếc nuối “Ngọn gió mùa thương”. Thở than, nhẫn nhịn trách móc người chồng tha hóa, dễ bị cái lạ lẫm, cao sang cám dỗ, chóng quên cái bình dị, cái quý giá nắm giữ trong tay mà không biết. Nhưng để chọn lựa lại, chắc người vợ vẫn đi con đường xưa cũ. Sự đời là thế!
Cuộc thi truyện ngắn đã đi được nửa chặng đường, chỉ một năm báo Văn Nghệ và Văn Nghệ Trẻ đã in tới 152 truyện ngắn dự thi trong số hơn 1200 tác phẩm gửi đến tòa soạn. Có một số tác phẩm vẫn trong tình trạng thô giản, hoặc thiên về giãi bày kể lể, mà giọng kể lại ít duyên. Vẫn còn nhiều tác phẩm khá ấn tượng về xây dựng nhân vật, hoặc miêu tả không gian nghệ thuật, hoặc chi tiết sinh động…, chúng tôi chưa có dịp phân tích, luận bàn hết được trong một bài viết ngắn này, cũng là một điều rất đáng tiếc.
Có thể nói: Tính đa dạng, phong phú, sinh động, tươi xanh và hấp dẫn tạo nên cái nền truyện ngắn dự thi khá rộng và bền vững. Nói một cách hình ảnh ví von: Có cả dãy Trường Sơn truyện ngắn, nhưng đã có đỉnh Phan xi păng chưa?
Dường như cái truyện ngắn đỉnh cao vẫn còn đang ở phía trước, đang trong nỗ lực tìm kiếm và sáng tạo?
_____________
Bài phát biểu tại lễ sơ kết cuộc thi truyện ngắn 2011 - 2012 của Tuần báo Văn Nghệ
(Nguồn website Hội nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh)
HV: Hạnh Vân vẫn nhớ cảm giác lúng túng hồi hộp của mình vào một ngày mùa thu năm 2009 - ngày HV được giao lưu với thầy Bùi Công Thuấn - Nhà giáo, nhạc sĩ, nhà Lý luận và phê bình văn học tỉnh Đồng Nai - qua sóng phát thanh của đài phát thanh truyền hình Đồng Nai. Từ ngày ấy đến nay, dẫu chưa có dịp gặp thầy nhưng HV cảm thấy rất vui khi biết thầy vẫn luôn lặng thầm dõi theo bước chân của tất cả anh em văn nghệ Đồng Nai, trong đó có cả đám trẻ ngơ ngác như HV.
HV lại càng vui hơn khi biết tin thầy vừa nhận được giải C Giải thưởng VHNT năm 2011 của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam với tác phẩm Những dòng sông vẫn chảy (Lý luận và phê bình văn chương). HV xin chúc mừng thầy và kính chúc thầy năm mới gặt hái được nhiều thành công trên con đường sáng tạo nghệ thuật!
Dưới đây là góc nhìn của Nhà Lý luận và phê bình văn học Bùi Công Thuấn về hoạt động thơ văn Đồng Nai trong năm 2011 vừa qua, bài viết đã được đăng trên tạp chí Văn nghệ Đồng Nai và Gác văn Đồng Nai. hanhvan’blog cũng xin được trân trọng giới thiệu: 
***
Bởi có lần tôi đã thực sự “mất lửa”vì chán nản trước ngòi bút của mình. Trái tim tôi bỗng lạnh ngắt và trang giấy trước mặt là một khoảng trống hoang vu. Rất may, tôi đã được tiếp sức bởi ngọn lửa từ trái tim nhà văn. Khôi Vũ nghe tôi chia sẻ, anh đã chúc tôi mau vượt qua mùa đông giá lạnh. Nói cho thật đúng, nhìn Khôi Vũ say mê hoạt động văn chương, tôi được tiếp sức và học tập ở anh nhiều điều. Tôi tự hỏi, ở tuổi lên lão của anh, sao anh dồi dào sức lực làm việc và sáng tác như vậy. Tôi chưa tìm ra bí mật sáng tạo của KV, nhưng tôi tìm thấy niềm tin yêu cho ngòi bút của mình. Năm rồi, KV làm tổng tập độc bản của anh, gần 4000 trang A4. Anh cũng sưu tầm lại những truyện ngắn viết trước 1975 đăng báo nay đã thất lạc. Anh bảo, may quá vẫn có người còn giữ được và gửi tặng lại tác giả. Đọc lại những truyện ấy, KV cười rất tươi. Anh chia sẻ, mình không ngờ ở tuổi sinh viên lại có thể viết được như vậy. KV cũng cho in hai tập truyện ngắn thiếu nhi, Sao Chim Không Hót, Mơ làm Thủ Lĩnh. Anh còn có Chuyện kể của chú bé phiêu lưu khá đặc sắc. Truyện anh viết cho thiếu nhi rất dung dị nhưng hấp dẫn và giàu tính giáo dục. Tôi không hiểu anh đã “lăn lộn” với trẻ con đường phố thế nào mà có thể viết được những truyện vừa rất hiện thực, vừa rất mơ mộng như vậy.
Tôi có cảm giác rằng anh vẫn sung sức như thời trai trẻ. Lần đi Sing thứ nhất trong năm, anh “khoe”, mình viết được 9 cái truyện ngắn. Lúc về, xuống sân bay, một truyện được đăng báo, tiền nhuận bút đủ mua vé máy bay. Tuyệt vời! Là một nhà văn như anh, đi, trải nghiệm, sáng tác, và chia sẻ, thật thú vị. Tôi tưởng anh đi Sing là để du lịch, thăm cháu ngoại, và để nghỉ ngơi. Vậy mà anh lại gặt hái được trên cánh đồng văn chương nhiều hơn cả lúc ở nhà... Trước khi đi Sing lần 2, KV dành một tuần ở Đà Lạt để viết. Ấy là chưa kể mấy chục cuộc thi văn nghệ anh được mời làm giám khảo. Gần cuối năm anh lại lập một hattrick văn chương nữa. Thế giới văn chương mạng có thêm trang blog Gác Văn Đồng Nai của KV. Đó là một trang KV dành để đăng các tác phẩm của nhà văn Đồng Nai. Tôi biết hiện anh đang chăm sóc 2 trang blog khác. Hàng ngày anh phải cập nhật bài và trả lời bạn đọc. Giờ lại ra một “đặc san” văn chương nữa, không biết anh lấy đâu ra thời gian để làm việc. Tôi rất thích tờ “đặc san” này. Bởi tôi có nhiều cơ hội được tiếp cận với tác phẩm của bạn bè, và ngoài ra, đặc san còn nhiều chuyên mục đời sống văn chương và xã hội đọc rất thú vị được KV trình bày bắt mắt như báo in. Tôi tin rằng tờ “đặc san” này sẽ lan tỏa sức nóng từ ngòi bút Khôi Vũ đến nhiều ngòi bút khác. Và biết đâu, nó sẽ làm cháy lên những tài năng văn chương trẻ Đồng Nai như một thời anh làm tập san Dưới Mái Trường. Có lần anh chia sẻ với tôi, năm 2012 anh sẽ cho in một tập tiểu thuyết mà anh đầu tư đã ba năm. Chúc KV dồi dào sức khỏe để thực hiện những dự định văn chương của mình.
Thực ra không chỉ nhà văn Khôi Vũ lập hattrick trong hoạt động văn chương, mà nhiều nhà văn Đồng Nai cũng tham gia tích cực các trại viết. Đó là trại viết về Tam Nông, trại viết về Chất độc màu da cam - Nỗi đau còn lại sau cuộc chiến, trại về Học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Trần Thúc Hà có Thế À, Nỗi đau này cho đến bao giờ và Chuyện chúng tôi; Xuân Bảo có Bác và trăng, Mưa nhân tạo và Di Họa Khôn Lường; Đào Sỹ Quang có Mối tình Da cam-Dôxin, Nổi dậy sau chuyến đi, Niềm vui của một già làng, Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi, Cái tâm của một bí thư chi bộ khu phố. Nguyễn Phương Liễu có Má Mai OK, Tam nông thời @, Lời nói dối chân thật và Da cam-Điôxin - vết thương chưa lành từ một cuộc chiến. Trần Thu Hằng có Câu chuyện của chiếc vali da, Vườn trong thành phố, Đêm Trắng. Nguyễn Quốc Hoàn có Lấy máu mình vẽ chân dung Bác Hồ, Đất chẳng phụ người, Ước mơ của chú bé tật nguyền, Tàn mà không phế. Đào Trọng Thử có Tôi làm nông, Bầu Nùng,Vào Đảng để làm gì, Người treo nhiều ảnh Bác Hồ. Đặng Minh Hân có Chất độc Da cam, nỗi đau còn lại sau cuộc chiến (phóng sự ảnh), Đôi điều suy nghĩ về cuốn”Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh”, cùng với tác phẩm của các tác giả Đàm Chu Văn, Lê Thanh Xuân, Huyền Tùng, Tiêu Thanh Giang, Tấn Hoài, Phạm Quang Hợp, Nguyễn Thu Giang, Ngô Thị Mỹ Hường, Dương Thị Thu Hường, Nguyễn Thị Oanh, Bùi Kim Chi,… Tôi lấy làm tiếc là chưa ghi nhận được đầy đủ những nỗ lực sáng tạo của nhà thơ, nhà văn Đồng Nai, nhưng qua những gương mặt tiêu biểu trên, bạn đọc có thể thấy hoạt động rất tích cực của ban Văn Học Hội VHNT Đồng Nai trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, trong cố gắng tạo điều kiện cho hội viên sáng tác. Tôi cầu chúc các nhà văn Đồng Nai sẽ có một mùa bội thu trong năm 2012, năm con rồng, rồng gặp mây.
Nếu có điều còn băn khoăn thì ấy là, văn chương Đồng Nai năm 2011 chưa có tác phẩm bứt phá về nghệ thuật, chưa xông vào những vùng “nóng” của hiện thực. Ngòi bút của nhiều nhà văn vẫn theo quán tính của phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa những năm kháng chiến. Văn chương Đồng Nai chưa tạo được sự chú ý của bạn đọc cả nước. Nói vậy để thấy văn chương Đồng Nai vẫn giữ “truyền thống” hiền lành nhân hậu của mình, dù khi phải đối mặt với những vấn đề gay gắt của Tam Nông (Bàu Nùng - Đào Trọng Thử) hay của nỗi đau chất độc Dacam (Di họa khôn lường -Xuân Bảo). Đòn Gió của Dương Thị Thu Hường có thế mạnh viết về đời sống công nhân hiện nay với bao nhiêu điều bức xúc, rất tiếc là ngôn ngữ văn chương của Dương Thị Thu Hường chưa được chọn lọc, và vì thế tính nghệ thuật của tác phẩm bị hạn chế.
Hai nhà văn mà lúc nào tôi gặp cũng nhận được sự sôi nổi trong phong cách sống và ý tưởng sáng tạo là nhà văn Nguyễn Một và nhà văn Phạm Thanh Quang. Nhà văn Nguyễn Một tuy rất bận công việc của công ty, song anh nói năm 2012 sẽ in một cuốn tiểu thuyết nữa, còn Phạm Thanh Quang thì bật mí, anh sẽ in Cỏ Tình. Tôi đã may mắn đọc được bản thảo của cuốn tiểu thuyết này. PTQ vẫn giữ nguyên giọng văn con nhà lính, ào ạt, sôi nổi và bộc trực. Anh kể lại cuộc sống lao động, chiến đấu và những sinh hoạt đời thường ở xã Cao Lâm trong kháng chiến chống Mỹ. Nơi ấy, tất cả trai tráng đều vào Nam chiến đấu. Nhiều người đã hy sinh. Phụ nữ đảm trách việc sản xuất, bắn máy bay và nuôi con. Nơi ấy, bao nhiêu khát vọng của cuộc sống dồn nén con người, xô dạt những số phận, rất nhiều đau thương và cũng không ít những nhếch nhác xô bồ. Nhưng nơi ấy, cái tình của nhà văn dành cho đất và người quê hương thật sâu nặng. Chất liệu hiện thực đầy ắp cùng với cách viết pha chất hài dân gian tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Văn chương Đồng Nai còn nhiều hy vọng ở hai tác giả này, bởi hai cây bút này có khả năng xâm nhập sâu vào đời sống để soi tỏ những góc khuất và những khía cạnh gai góc của nó, và cả những vùng “nhạy cảm” nữa.
Dự Hội Nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8, Đồng Nai có 2 đại biểu: Đào Nguyên Thảo (thơ) và Phạm Thanh Vân (văn xuôi và thơ). Tôi không thấy hai tác giả trẻ này xuất hiện trong các diễn đàn của hội nghị, cũng chưa thấy họ ghi được dấu ấn của mình trên các diễn đàn trong những năm qua. Thơ Đào Nguyên Thảo là thơ tự tình, giàu chất suy tư về một tình yêu đã mất, chỉ còn lại bóng dáng những ngày yêu thương và nỗi cô đơn (*). Cảm xúc thơ trói buộc trong nỗi niềm của cái tôi. Truyện của Đào Nguyên Thảo cũng diễn đạt nhưng tâm tình ấy (Hoàng Hôn Muộn), cốt truyện đơn giản, kỹ thuật viết không mới. Dù sao thời gian còn dài trước mặt, và tôi hy vọng như Đào Nguyên Thảo đã viết: “Tôi gieo hạt trên cánh đồng thơ… để gặt về nhiều điều hơn một niềm vui mỏng mảnh cho riêng mình... Tôi sẽ gieo hạt, tôi ước mình sẽ giặt về những yêu thương xanh biếc… (Cánh đồng thơ cho những chiều lộng gió...).
Về tác giả trẻ Đồng Nai, cuối năm 2011 có một tin vui vui. Nhà văn Khôi Vũ cho biết, tác giả Hạnh Vân đang được giới văn chương trong nước chú ý qua truyện Quán Ven Sông in trên Văn Nghệ (số 44, ngày 29, 30/10/2011) và chùm thơ vừa in trên Văn Nghệ Trẻ ( số 51, ngày 17,18/12/2011) có lời bình của nhà thơ Văn Công Hùng. Trước đó, Văn Nghệ Trẻ số 48 (ngày 26,27/11/2011) đã đăng thơ Hạnh Vân. Năm 2009, trong chương trình Thơ của đài PTTH Đồng Nai do Hạ Thi phụ trách, tôi cũng đã có dịp bình bài thơ Nụ Cười Sen Thơm của Hạnh Vân.
Tôi lại nghiệm ra điều này, những trại sáng tác Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu mà Hội VHNT Đồng Nai đã tổ chức cho nhà văn trong năm qua thực sự bổ ích. Nó tách nhà văn ra khỏi những vướng víu đời thường để chuyên tâm hoàn thành bản thảo. Nó cũng là dịp nhà văn tiếp lửa cho nhau những khi mùa đông nguội lạnh của ngòi bút chợt đến, và biết đâu những cọ sát làm tóe lửa những bước đường đi tới của nhà văn. Được sống bên nhau, dù ngắn ngủi, được chia sẻ những nỗi niềm mà ngày thường ít có dịp tỏ bày, được bạn bè tin cẩn trao gửi những thông điệp không nói ra trong tác phẩm,… những gặp gỡ như thế luôn đem lại hạnh phúc cho người cầm bút, để khi họ ngồi vào bàn viết, một thế giới hân hoan bao bọc lấy tâm hồn họ, và chắc chắn bạn đọc sẽ được đọc những tác phẩm hay, đầy ắp tin yêu…
Viết những dòng này, tôi lại ao ước được gặp bạn văn ở một nơi mà trời đất mênh mang, với nắng gió, cát mịn và sóng biển, nơi ấy mặc sức cho nhà văn vẫy vùng với thế giới nghệ thuật của mình…
Mùa Xuân Nhâm Thìn 2012
Nguồn: Gác Văn Đồng Nai
http://gacvandongnai.blogspot.com/2012/01/gvn-so-05-bai-cua-bui-cong-thuan.html
HV: Bài thơ được viết vào một ngày đầu xuân năm 2009 - ngày "nhóm trẻ" Biên Hòa được gặp gỡ nhà thơ Kiều Anh Hương. Gọi là nhóm cho oai chứ thực ra chỉ có 3 người trẻ và đều lơ ngơ như những đứa học trò nhỏ xíu trước một người thầy cao vợi...
Ngày hạnh ngộ đầu xuân
(Kính tặng chú Kiều Anh Hương)
Con gặp chú
Một sáng mùa xuân
Mái tóc điểm sương và nụ cười rạng rỡ
Không có cái nhìn bỡ ngỡ
Bởi những vần thơ đã kết nối tâm hồn
Con gặp chú
Dường như khoảng cách thật gần
Dẫu tuổi xuân đã chia hai thế hệ
Con như người trò nhỏ
Mắt xoe tròn trước lời thầy, lời cha…
Chú đã đi qua chiến tranh
Bạn bè của chú nhiều người ngã xuống
Trong kí ức, giữa mịt mù lửa khói
Vẫn sáng những nụ cười trẻ mãi tuổi đôi mươi
Con lớn lên giữa bình yên
Cái ác liệt của chiến tranh con chỉ biết qua sách vở
Giấc ngủ hằng đêm không phải giật mình hoảng sợ
Vì một tiếng bom rơi hay súng nổ long trời
Xin cám ơn cuộc đời
Đã cho chú bình yên đi qua một thời lửa khói
Cho con sống giữa bầu trời xanh trong vời vợi
Để những vần thơ dào dạt
Được ngân lên trong ngày hạnh ngộ đầu xuân…
Và con thầm mong
Hà Nội
Biên Hòa…
Đêm sẽ mãi bình yên!*
Hạnh Vân
(*) Mượn ý từ nhan đề tập thơ "Hà Nội đêm bình yên" của nhà thơ Kiều Anh Hương.

Những đám mây vắt ngang nỗi nhớ
bóng người hút phía cuối trời
càng đến gần càng xa xôi
ký ức trôi xuôi
niềm vui rơi ngược
mũi tên sắt xé toạc tầng tầng bóng tối
màn đêm rách rã
đau
cô đơn chấp chới rơi về phía sáng
nơi ta không thể chạm bóng người
giữa những dải sáng ngoằn ngoèo trăm ngả
ta loay hoay tìm một lối rẽ về quên…
Hạnh Vân
Ai cũng sợ "ghen bóng ghen gió", nhưng hình như ai cũng từng trải qua cảm giác này, khi yêu...
Ghen bóng
Những cơn gió đuổi nhau thốc vào căn phòng trống
khoảnh khắc đợi chờ buồn xo
dòng nhớ quanh co chảy đến cuối trời
nơi ánh mắt nụ cười người thương vương vãi
nơi váy ngắn chân dài người dưng tung tẩy
nơi bể vui lênh láng chặn nẻo về
những cơn gió thốc vào nhau
lốc xoáy
hồ nghi cãi nhau với niềm tin
tủi buồn cãi nhau với thương nhớ
hơi thở gấp nhanh hòa vào lốc gió
kỷ niệm cuộn ghen hờn
rách rã
mịt mù bay
xúc cảm rối tung
xáo trộn những vòng xoay
tơi bời sớm mai tơi bời đêm tối
tơi bời lòng tin
bình yên hấp hối
hờn ghen nghiêng ngả cõi lòng
bao giờ người về lắng dịu gió dông?
Hạnh Vân
Hà Nội đang lạnh. Sang nhà anh Lê Tường Hưởng thấy có bài thơ rất nỗi niềm dành tặng những người đàn bà cô đơn trong mùa đông. Hạnh Vân về nhà lục lọi... Và đây, bài thơ này cũng có vẻ tâm trạng nhỉ!?
Băng qua mùa đông
Bốn bức tường khô chặn gió mùa đông rét buốt
hai chiếc giường đơn chơ vơ im phắc
một cánh cửa nâu đóng kín
khép em vào lặng câm
em tự cầm tù chính mình
trong căn phòng thênh thang lặng ngắt
những tiếng cười đóng băng lả tả rơi ngoài bậc cửa
chỉ còn em
với em
và vệt nhớ đậu dài theo đuôi mắt
em tự cầm tù chính mình
để nhìn rõ bóng mình khô khỏng
để tự mình lao vào trống rỗng
nghe câm lặng buốt từng tế bào
chiếc mền bông nặng trĩu phủ lấp nỗi buồn
rèm cửa mỏng manh nhọc nhằn che nỗi nhớ
những tin nhắn soạn rồi lại xóa
ngày trôi về nơi xa
tẩy trang hoàng hôn
cởi bỏ mặt nạ ngày
khoác lên mình bóng tối
em rúc vào nơi không có những tia nhìn buốt nhói
để được chân trần ngực trần băng qua mùa đông rét mướt
về anh!
Hạnh Vân

Lỗi hẹn
Một lời hẹn
một giấc mơ
một câu thơ ngơ ngác
buộc vào nhau
xao xác lối về
lông ngỗng rơi lưng chừng hút dấu
người giữa đường
chơi vơi
một lời hẹn
một niềm tin
một câu kinh tỉnh thức
khua tinh tang
buốt nhức nẻo chờ
gió hui hút thổi suốt bờ hoang vắng
ta một mình
lạnh trơ
lời hẹn mở
phập phồng xanh hy vọng
lông ngỗng bay
rạo rực giấc mơ chiều
lời hẹn buông lơi chạm câu kinh sám hối
lông ngỗng lạc rời nương gió mịt mùng xa
đã lỗi hẹn
giấc mơ chiều đã rạn
hoang hoải đêm
cạn khuyết bóng gầy
lời hẹn xanh rêu níu ngày đã mất
lông ngỗng cuối trời tìm nhau...
Hạnh Vân
Thơ Hạnh Vân
Đêm trắng
Em nằm ngoan như đêm
gối đầu lên bình yên
khép mắt
giấc chưa thành giấc
đêm trở mình
co ro
nỗi nhớ quẫy cựa xao xác vách mùng
trong giấc mơ người em không có mặt
ngọn đèn khuya xa đã tắt
lủi thủi bóng gầy
nhọ nhem
ngủ đi em
bầy cừu hiền ngoan xếp hàng chờ em đếm
kim đồng hồ nhích dần về sáng
tiếng thở dài va phải tiếng thạch sùng chắc lưỡi
lả tả rơi vào hư vô
chẳng thanh âm nào vói được tới người
bầy cừu rã rời
xếp chồng lên nhau ngủ
chỉ còn em chong chong
chỗ nằm bỏng rộp
chiếc điện thoại kề bên nguội ngắt
mấy ngày không nhói tên người
à ơi… à ơi…
ru hời đêm trắng
bóng em gầy như vệt nắng đầu ngày…
Tìm anh
Anh ở đâu
ngày mẹ quặn lòng sinh em
tiếng khóc em vỡ ngày vỡ đêm vỡ năm vỡ tháng vai mẹ trĩu mòn nhọc nhằn lo lắng
ai sẽ nắm tay em khi tuổi mẹ nghiêng chiều?
Anh ở đâu
ngày em chân trần đầu trần băng qua tuổi thơ đầy nắng
những bông hoa hồn nhiên nở trên tóc em khét cháy
xương cá chôn dưới chân giường ngày nao thành xiêm áo em mặc gặp anh?
Anh ở đâu
ngày em tập cười duyên với bóng mình trong gương
vụng về học thêu khăn thêu áo
mũi kim châm ngón tay buốt nhói không ngăn được giấc mơ thiếu nữ
thẹn thùa
Anh ở đâu
ngày em biết yêu ngày em thất tình ngày em tươi vui ngày em đau khổ ngày em trong veo ngày em mòn mỏi
ngày em rã rời chờ đợi một phiên bản người
như anh
Anh ở đâu
ngày mình chạm nhau ngày lốc xoáy mịt mù đất trời hòa một
ngày cơn mưa dông nuốt trọn em vào đáy chiều cô độc
anh ở đâu
sương rơi ngày trôi mặt trời ngái ngủ
phố quen người đông mắt em rêu phủ
níu vào đâu cũng trượt lại bóng mình
anh ở đâu
ngón tay non đã khô lạnh rạc rời
đóa hoa cài trên tóc mòn đã úa
em vẫn trượt theo vết nhớ
tìm anh
Về đâu
Trả đêm về với chiêm bao
mưa đan nắng
ướt
hanh hao giấc ngày
nhón mình
về lại thơ ngây
miền đau phủ trọn
tuổi gầy đa mang
trái cấm về lại địa đàng
chân trần
lỡ bước
rẽ sang lưng chừng
ta về níu một dửng dưng
nghe hui hút nhớ
thấu rưng rức buồn
đá thiêng
nước phải hao mòn
ngược về đâu cũng chẳng còn vẹn nguyên…
Hạnh Vân
-------------------
Lời bình của nhà thơ Văn Công Hùng
Nhà thơ Đàm Chu Văn giới thiệu cho tôi rằng ở Đồng Nai có một cô giáo tên Hạnh Vân viết rất tốt. Thế rồi ngay sau đó tôi đọc một cái truyện ngắn ký tên Hạnh Vân in trên báo Văn Nghệ già rất chững chạc- truyện trên Văn nghệ già đương nhiên là chững chạc rồi. Và giờ thì tôi lại có một chùm thơ nữa của cô. Trong thơ Vân muốn mở đề tài, muốn bám sát đời sống nên quan tâm đến cả số phận của những đứa bé bị bạo hành, đến những vấn đề dân sinh nữa, nhưng hình như chưa tới. Chỗ này có một mâu thuẫn rất khó xử lý, ấy là khi người trẻ chỉ khai thác bản thân mình, tôn trọng cảm xúc của mình thì bị chê là chỉ biết mình, nhưng khi họ mở ra, đụng đến những vấn đề xã hội, những mắt thấy tai nghe thì lại bị chê là... chưa tới. Âu nó là cái bệnh chung của giới cầm bút, còn với Vân, tôi thấy cô giáo này đĩnh đạc ở cả hai mảng truyện ngắn và thơ. Sau một đêm trắng mà thấy "bóng em gầy như vệt nắng đầu ngày" là tinh tế quá đi chứ. Mong manh dễ vỡ đấy nhưng nó vẫn là nắng, vẫn có cơ sở để hy vọng. Và vì hy vọng nên "em vẫn trượt theo vết nhớ tìm anh". Tôi bỏ phiếu cho ba bài thơ này là vì nó Hạnh Vân hơn cả...
Nhà thơ VĂN CÔNG HÙNG
Bài đăng trên Văn nghệ Trẻ số 51
![]()
Em bé im lìm
bên dòng xe lênh láng
thay cho nệm chăn là mù mù bụi khói
thay cho lời ru là nhoi nhói tiếng còi
em mỏng manh như một ngọn cỏ rời
có kịp làm ai rối bước?
em ngoẹo đầu trên cánh tay khẳng khiu lem luốc
thằng anh mũi dãi lòng thòng
ếch nhái na nhau tha thủi góc đường
luẩn quẩn trong tầm mắt rắn
con rắn mặt người đầy nọc độc
em mê man giấc ngày
cơn mưa chiều qua hắt ướt cánh tay
cái nắng sáng nay lan đến chân mày
mắt em vẫn không buồn chớp
cơn mê mụ mị từng cen-ti-met thịt da
người tiếp người tiếp người tiếp người ngang qua
cái nón kết leng keng xu lẻ
đồng nào mua được lời ru?
đồng nào đổi bầu vú mẹ?
thêm bao nhiêu cái nón rách ngổn ngang tiền lẻ
em mới được thức được chơi được khóc được cười?
em nằm im như dấu hỏi không lời
bên giấc ngủ của em có bao người bừng thức?
Hạnh Vân
Thời sinh viên, tôi vẫn thường thả bộ ngang qua khu nhà ở của cán bộ giáo viên nơi con hẻm nhỏ gần trường, trong những buổi chiều chập choạng, nhá nhem… Ở đó tôi có thể nghe tiếng giỡn hớt, cãi nhau của bầy con nít; tiếng người lớn gọi trẻ con í ới; tiếng dầu mỡ rán xèo xèo trên bếp; tiếng chén bát khua rộn ràng… Thanh âm sống động bên trong những ô cửa vừa sáng đèn đó như níu lấy tôi, dắt tôi về với những bữa tối êm đềm trong căn nhà nhỏ của mình ở một vùng quê thanh bình, nơi có ngọn đèn dầu vàng vọt, mờ ảo nhưng vô cùng ấm áp …
Ký ức về bữa cơm gia đình trong tôi thường gắn với ngọn đèn dầu leo lét ấy. Những buổi tối nhiều gió, lá chuối bay phần phật, cọ nhau xao xác sau nhà, gió lùa qua khe vách chực chờ thổi tắt ánh đèn leo lét, mẹ tôi khéo léo cuộn một tờ giấy để nối dài thêm bóng đèn che chắn gió… Và những buổi tối sau cơn mưa bất chợt đầu mùa, đàn mối bay rợp vào nhà, vây quanh ánh đèn vàng vọt, cây đèn dầu lại được đặt giữa một cái chậu xâm xấp nước, cách xa bàn ăn, đàn cá dưới ao nhà được hứa hẹn một bữa tiệc mối linh đình… Bữa tối diễn ra trong ánh sáng lờ mờ nhưng không vì thế mà kém phần ấm áp…
Không biết do ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu hay vì cái dạ dày trẻ con dễ tính mà bữa cơm gia đình ngày ấy với tôi lúc nào cũng thật ngon lành, dù mâm cơm nhà nghèo nhiều khi chỉ có tô canh rau đay nấu xuông, trái trứng luộc dầm tan trong nước mắm… và đôi đũa của mẹ thường vấp trên miệng chén những khi chúng tôi cạo vét đáy nồi…
Bữa sáng của chúng tôi ngày ấy thường đơn giản, qua loa cho kịp giờ đến lớp; bữa trưa thường vắng lạnh do ba mẹ đi làm đồng xa không kịp về; chỉ bữa cơm tối là đoàn tụ, quây quần… Có phải vì vậy mà nỗi nhớ nhà, nhớ bữa cơm sum họp cứ cuộn lên trong tôi những lúc nhá nhem?
Bao buổi nhá nhem đã qua từ khi tôi bệu bạo tập nhai cho tới khi biết so đôi đũa cho ngay ngắn? Và bao bữa nhá nhem nữa đã qua từ khi tôi mè nheo về chuyện bông hoa vẽ trên chén của mình hổng đẹp bằng bông hoa trên chén của chị cho đến khi biết ngượng ngùng kể với mẹ về anh chàng hay đi theo sau mình những buổi tan trường? Một bữa lơ ngơ bấm ngón tay tính thử, thấy mình lạc trong một rừng con số, mới hay mình đã từng có thiệt nhiều những khoảnh khắc vui vẻ, hạnh phúc. Vậy mà chỉ khi rời xa không gian ấm áp ấy tôi mới kịp nhận ra…
Thì trẻ con ngày ấy vốn ngây thơ, nên chúng tôi dễ dàng tin rằng người lớn hay nhạt miệng khi thấy ba mẹ thích nhìn những đôi môi bóng mỡ của chúng tôi hơn là gắp cho mình một miếng thịt luộc trắng hồng; cũng như người lớn ngày nay thường tất bật nên đôi khi quên rằng trẻ con cần không khí bữa cơm gia đình ấm cúng hơn là những bữa ăn thịnh soạn mà lạnh buồn…
Biết bao đám tiệc linh đình đã trôi tuột khỏi ký ức chật chội của tôi không tăm tích; nhưng những bữa cơm đơn sơ mà ấm áp vẫn đọng lại, đằm sâu trong tôi, chỉ chờ đến buổi nhá nhem lại cuộn lên như những đợt sóng ngầm, ngọt ngào mà da diết…
(Hạnh Vân)

Trời còn mờ tối. Con phố chật chội hằng ngày bỗng rộng thênh thang. Đằng kia, cô công nhân vệ sinh vẫn mải miết với công việc, sương đêm mờ đục như tan ra, bảng lãng dần theo từng nhát chổi cần mẫn, nhịp nhàng. Một nữ công nhân tan ca vội vã trở về nhà, bóng áo xanh lướt nhẹ qua như gió thoảng, rồi hút dần, mờ xa. Sân trước một ngôi nhà nhỏ, người mẹ trẻ đang lặng lẽ phơi mớ quần áo trẻ con, mái tóc hơi xoăn chưa kịp bới đổ dài xuống bờ vai thon thả, vẫn kịp óng đen dưới ánh đèn đường đang mờ dần. Nhà bên, một thím đứng tuổi vừa quét sân xong, dáng vẫn lom khom, tay đấm vào lưng thùm thụp, chỉ lát nữa thôi chồng con thím thức dậy, sẽ chẳng ai biết gió thổi suốt đêm qua và lá của cây vú sữa già cỗi đã rụng rơi tơi tả trước sân nhà…
Tất cả như một bức tranh, và bức tranh ấy mỗi lúc một sống động hơn lên khi ánh đèn đường dần dần nhòa nhạt, những tia nắng đầu ngày lấp lánh đậu trên vai áo kẻ qua đường…
Bức tranh lao xao, tuyệt đẹp ấy tôi được ngắm vào một hôm bất đắc dĩ phải ra khỏi nhà từ rất sớm. Giật mình nhận ra hình ảnh con người lung linh ẩn hiện trong tranh đa phần là phụ nữ, giống hệt như những hình ảnh mà tôi đã gặp cách đây 20 năm trước, khi còn là đứa trẻ quê nghèo bước thấp bước cao phụ mẹ đẩy hàng ra chợ. Ngày ấy, cô bé con được giao trách nhiệm trông hàng cho mẹ đi lấy mối rau mà cứ ngủ ngồi gà gật, mái tóc khét vàng xõa xuống hai cánh tay khẳng khiu đang bó gối khoanh tròn; xung quanh tiếng người bán buôn ngã giá, cãi cọ ồn ào, lao xao một góc đêm. Có cảm giác chính những thanh âm lao xao ấy đã khua màn đêm tan loãng, những ánh đèn dầu nhạt nhòa rồi tắt lịm, ráng đỏ bừng lên một góc trời …
Thì ra ngày xưa tôi cũng đã từng góp một hình ảnh, dẫu khiêm tốn nhỏ nhoi, vào bức tranh đón chào bình minh trên vùng quê thương khó. Từ khi bắt nhịp với cuộc sống thị thành, tôi dần quen với việc thức khuya hằng đêm để mỗi sáng mai lại tất tả vội vàng cho kịp giờ làm, qua loa thực hiện những công việc không tên vào những thời khắc khác của ngày... Thời gian dần trôi, tôi cũng dần quên hình ảnh những người phụ nữ tảo tần đón bình minh. Tệ hơn, tôi đã nghĩ phụ nữ hiện đại không cần thiết phải như xưa, chịu thương chịu khó quanh năm để giấc ngủ đêm đêm chẳng bao giờ tròn vẹn…
Chỉ đến khi có việc phải ra phố một ngày trời mờ tối, được ngắm bức tranh rất thực giữa đời, tôi mới nhận ra dù ngày xưa hay ngày nay, dù ở quê hay ở phố, vẫn luôn có những người phụ nữ âm thầm, lặng lẽ xua màn đêm dày mịt, đón chào một ngày mới với tất cả tấm lòng, sự hy sinh dành cho những người thân yêu. Và tôi kịp nhận ra hình ảnh người phụ nữ trong thời khắc chuyển giao giữa đêm và ngày ấy thật đẹp, vẻ đẹp toát lên từ nét tảo tần, thương khó lung linh theo những sợi nắng đầu tiên, sáng ngời, rạng rỡ…
Hạnh Vân
(Bài đã đăng báo Đồng Nai)

Bên trong ô cửa sáng đèn
bình yên sưởi ấm căn phòng ấm
không khí vừa đủ vui âm nhạc vừa đủ nghe ánh đèn vừa đủ sáng
bát đũa tinh tang khua vào tiếng trẻ con ríu rít nói cười
bên trong ô cửa lặng trầm
bốn mắt hướng về màn hình dìu dịu sáng
phim truyền hình nhỏ từng giọt lãng mạn vào khoảng không trầm ấm
hai nhân vật chính trao nhau một đốm môi nồng
bên trong ô cửa im lìm
cánh rèm mỏng lay nhẹ màn đêm mỏng
vệt sáng cuối cùng tan vào giấc ngủ
con chó nhỏ gối đầu lên bóng tối
canh giữ bình yên
ô cửa bình thường đóng quây những âm sắc dị thường
một đôi đũa vấp trên miệng chén - trẻ con hồn nhiên không biết
một ánh mắt lạc rời - màn hình vô tri không hay
và cún con ngủ quên không cất tiếng sủa khan
khi một lọn gió quệt ngang khung cửa
rơi như một tiếng thở dài
chỉ có giấc mơ leo lét cháy hoài
đêm xao xác ngoài ô cửa…
Hạnh Vân
Bức tranh cuộc đời
Mẹ vẽ bức tranh hôn nhân hồng sắc tình yêu
Vẽ những nụ cười trẻ thơ vào gia đình hạnh phúc
Bức tranh yêu thương vẫn còn tươi nét mực
Ba lỡ tay làm loang lỗ sắc màu
Bóng đêm lạnh lùng vẽ những nỗi đau
Nét cọ tủi hờn loang thành dòng nước mắt
Mẹ cố nén lòng không bật ra tiếng khóc
Khi ba vẽ thêm người phụ nữ thứ hai lên bức vẽ gia đình
Mẹ vẽ đợi chờ vào khoảnh khắc bình minh
Nhưng nét mỏi mòn cứ hiện lên khi màn đêm buông xuống
Mẹ vẽ bước chân tảo tần sớm hôm trên đồng ruộng
Để ước mơ con tung bay theo những cánh chim trời
Mẹ đưa nét cọ bao dung vào bức tranh đời
Hòa thêm sắc thứ tha khi ba quay về tổ ấm
Nhưng bức tranh gia đình chưa kịp bừng sắc thắm
Ba lại mạnh tay vấy mực xám buồn
Mẹ lại chống chọi từng đêm ngăn giọt nước mắt tuôn
Gom hết sắc màu yêu thương vẽ một vòng tay ấm
Cho chúng con vững cánh bay vào trời cao rộng
Hòa thêm sắc an vui - con vẽ tiếp bức tranh đời…
Nơi thênh thang
Người đàn ông quảng giao
Đi đến nơi nào cũng chật
Cơ quan
hội trường
đường phố
chật chội những nụ cười giao đãi
chen chúc những cái xiết tay
những lời ngợi ca cũng giăng giăng vây ngày nhạt rỗng
Quán xá đêm đêm chật chội những bóng hồng
níu người bằng ánh mắt lả lơi
trói người bằng đôi môi mọng đỏ
xiết nghẹt người bằng bầu ngực căng chật bung áo mỏng
cho thơ nồng
cho rượu cay
cho cuộc đời mê đắm những cơn say
Khi hơi men tan
tan giấc mơ gầy
những nụ cười tắt
những gương mặt trơ khấc
xô nhau
những đôi guốc cao giẫm nát trái tim nhàu
Bị thương rồi
người có kịp về ngôi nhà nhỏ
có kịp úp mặt vào bờ vai mỏng
thênh thang một giấc bình yên…
Áo nâu
Người đàn bà mặc chiếc áo nhuộm màu đức hạnh
ngượng nghịu chờ tàn đêm
không dám đắm mình trong bến mê
không dám níu chặt tình lang bằng đôi môi đẫm mùi cỏ dại
không dám khua động màn đêm bằng dập dồn hơi thở
không dám chong giữa trời ánh mắt rực lửa yêu
Lặn lội thân cò
chiếc áo ngả nâu
nhạt nhòa giữa những sắc áo đỏ xanh vàng tím
chìm khuất theo vạt nắng cuối ngày
Tình lang lạc bước rồi
Cò nỉ non tiếng khóc
chơi vơi...
Cởi chiếc áo nâu
khỏa thân nhan sắc
người đàn bà cháy bùng thành ngọn đuốc
rừng rực sáng một góc trời
Cơ thể nóng rẫy trong đêm bỗng cất nên lời
khao khát…
Nói thay lời của đứa con bị cha mẹ bạo hành
Quyền uy người lớn
cựa quậy trong chiếc roi mây
cựa quậy trong bàn tay “thép”
cựa quậy nhà trên, góc bếp
chực chờ diễu võ dương oai
cơn nóng giận của người lớn
trút lên da thịt non mềm
thân thể của con nơi nào cũng biết nhói biết đau biết rát
chỉ tâm hồn thơ trẻ
chai dần theo những đòn roi
cổ tích ngủ quên
những con số đỏ đen hóa mẹ thành dì ghẻ
nhưng cơn say ngả nghiêng biến cha thành phù thủy
ác mộng giữa ban ngày
đâu ông bụt bà tiên?
con tìm về cổ tích trong giấc mơ đêm
nơi có những cha mẹ nghèo hết mực thương con
dẫu con có xấu xí dị hình như sọ dừa nàng cóc
nơi chỉ những kẻ ác mới làm đau người khác
người lành không thích cầm roi
con non dại vụng về
nhưng xin mẹ cha đừng thương con bằng roi bằng vọt
con sẽ lớn lên
bằng lời ru, cổ tích
bằng dịu dàng, nghiêm khắc
chỉ xin đừng đánh con đau
ông bụt ơi
con đợi phép nhiệm màu
biến hung tợn thành dịu dàng
biến roi mây thành chùm bong bóng
lời ru ngọt ngào thay lời quát mắng
ác mộng hóa thành một giấc bình yên
để con được làm một cái bống ngoan…
Hạnh Vân
P/S:
1. Hạnh Vân đạt giải nhất thơ và giải ba truyện ngắn trong cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về đề tài gia đình tỉnh Đồng Nai lần thứ nhất năm 2010-2011, hì...
2. Bấy lâu nay toàn sử dụng hình sưu tầm trên internet, nay muốn post hình trong máy lên mà loay hoay mãi hổng làm được, hic...
Username : hanhvan
Nickname : hanhvan
SN : 1980
Nơi ở: Biên Hòa, Đồng Nai
email: hanhvan914@yahoo.com.vn
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||
- catbien Chúc bạn năm mới nhiều niềm vui mới!
- hanhvan Những vần thơ của anh rất dịu dàng! hanhvan thích câu "nỗi...
- hanhvan "mấy dòng com" của anh Bảy còn oách hơn thơ hanhvan nữa...
- hanhvan Cám ơn bác đã ghé thăm và góp những vần thơ...
- Xuân Thu Em không muốn mình hóa đá đâu anh Thác Trị An ngày ngày vẫn ầm ào...
- bảythi Anh và Em Lê Trường Hưởng Em không muốn anh là chàng trai miệt hạ Em cũng chẳng khi...
- hanhvan hanhvan cảm động lắm khi anh Bảy thường xuyên ghé thăm. Cám...
- baythi Vào HV, nhưng không có...
- hanhvan Dạ, hanhvan mong có ngày trở lại Đất Tổ lắm ạ! Cám...
- hanhvan Dạ, đúng là lối rẽ đã in trong tim thì không thể...
- Xuân Thu Lân đầu thăm hanhvan thấy thơ hay, ảnh đẹp. Thì ra người quen dự HN viết...
- Lê Trường Hưởng Ta bay đi trong màn đêm Trăm ngả ngoằn ngoèo sáng...
- hanhvan Những cảm xúc vụn qua bàn phím của anh Bảy là chảy...
- hanhvan Cám ơn bác (anh, chị) VC đã ghé thăm, đọc thơ và...
- bảythi Giang cánh xé trời đêm Không biết về hay đi ...
- VC Có câu thơ tôi thích. Thích vì hình ảnh...
- hanhvan Dạ! tại yêu nên mới ghen bóng ghen gió vậy mà!...
- hanhvan Dạ! ghen bóng ghen gió khiến người ta (cả người ghen và...
- hanhvan hanhvan thật bất ngờ khi chị ghé thăm. hanhvan ngưỡng mộ thơ của chị...
- hanhvan Anh Bảy nói "không kịp còm" mà lại còm nhanh và...
- trongbao Hờn ghen nghiêng ngả cõi...
- Lê Trường Hưởng Ánh mắt nụ cười người thương vương vãi Nơi...
- Phạm Dạ Thủy Một bài thơ ghen rất... tình. Chúc mừng Hạnh Vân có...
- bảythi từ thuở… Đông Hồ… dao với...
- NNC Lâu rồi mới lại ghé thăm Hạnh Vân và đọc thơ.
- hanhvan Wow, anh Bảy làm thơ nhanh và hay thiệt đó. Cám ơn sự...
- hanhvan Cám ơn lời chúc của anh ạ! Một ngày vui và ấm...
- bảythi Đông sắp qua rồi em
- Lê Trường Hưởng Chúc Hạnh Vân Băng qua mùa đông để đón...
- Chung
- Tổng số bài viết: 60
- Tổng số góp ý: 685
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 6.519
Bản in